Pulmicort

273,000 VND
Chỉ định: THUỐC PULMICORT Điều trị hen phế quản. Pulmicort có thể được sử dụng khi liệu pháp thay thế hoặc giảm liều steroid đường uống là cần thiết. Pulmicort Respules : cung cấp budesonide trong hỗn dịch khí dung khi các phương pháp khác của liệu pháp steroid không thích hợp

ĐVT: Hộp

Số lượng:

THUỐC PULMICORT có Thành phần
Cho 1 ml hỗn dịch 0,5 mg/2 ml
- Budenoside
- Sorbitan trioleate
- trichlorofluoromethane
- dichlorotetrafluoroethane
- dichlorodifluoromethane.

Dược lực học THUỐC PULMICORT
- Pulmicort chứa hoạt chất budenoside là một glucocorticosteroid không chứa halogen. Các thử nghiệm ở người và động vật cho thấy mối tương quan thuận lợi giữa hoạt tính kháng viêm tại chỗ và tác dụng glucocorticoid toàn thân với biên độ an toàn rộng về liều lượng. Điều này được giải thích là do sự chuyển hóa của nhanh chóng budenoside trong giai đoạn đầu qua gan sau khi được hấp thu vào máu, khoảng 85-95%, thành những chất chuyển hóa có hoạt tính thấp.
Pulmicort Respules
- Thử nghiệm làm trắng da của các steroid tác động tại chỗ ở người cho thấy hoạt tính kháng viêm của budesonide gấp 2 lần beclomethasone dipropionate, nhưng ít tác dụng toàn thân hơn, qua việc đánh giá tác động trên số lượng bạch cầu và giảm nồng độ cortisol trong huyết tương vào buổi sáng. Tương quan thuận lợi giữa hoạt tính kháng viêm tại chỗ và tác động toàn thân của budesonide là do ái lực cao với thụ thể glucocorticoid, cùng với sự chuyển hóa lần đầu qua gan nhanh và thời gian bán hủy ngắn.
- Liều 0,8 mg cho thấy làm giảm nồng độ cortisol huyết tương và bài tiết cortisol trong nước tiểu. Một liều hít 3,2 mg budesonide làm giảm nồng độ cortisol huyết tương tương đương với 10 mg prednisolone uống.
Budesonide trung hòa phản ứng phản vệ tại phổi ở chuột bọ chủ yếu qua trung gian IgE chứ không phải IgG. Việc điều trị trước với 1 mg budesonide đường hít 1-4 tuần ở bệnh hen có tác dụng ức chế phản ứng tức thời của phế quản đối với tác nhân dị ứng theo phương thức liên hệ thời gian. Phản ứng dị ứng chậm bị ức chế sau một tuần điều trị bằng đường hít.
Việc điều trị trước với budesonide 2-4 tuần cũng có tác dụng giảm sự tăng đáp ứng của phế quản không đặc hiệu ở bệnh nhân hen đối với các chất kích thích trực tiếp và gián tiếp.
Ở chuột lang, budesonide không làm giãn phế quản qua tác động trên thụ thể bêta và cũng không ảnh hưởng đến tác động giãn cơ trơn đường thở của theophyllin. Ở người, khi hít 1,6 mg budesonide 1 lần duy nhất thì có tác dụng giãn phế quản nhẹ. - - Tác động này đạt tối đa 6 giờ sau khi hít và kéo dài 12 giờ.
- Khả năng gây ung thư của budesonide đã được đánh giá ở chuột nhà và chuột cống với liều đến 200 và 250 mcg/kg/ngày. Không có tác động gây ung thư được ghi nhận ở chuột nhà. Một nghiên cứu cho thấy có sự tăng tỷ lệ u thần kinh đệm ở não chuột cống cái Sprague-Dawley dùng budesonide, tuy nhiên kết quả chưa rõ ràng. Những nghiên cứu sâu hơn ở chuột cống cái Sprague-Dawley và Fischer cho thấy tỷ lệ u thần kinh đệm thấp và không khác biệt với nhóm glucocorticoid tham khảo hoặc nhóm chứng. Kết luận là việc điều trị bằng budesonide không làm gia tăng bướu não ở chuột cống.
Ở chuột cống cái, với liều 10, 25 và 50 mcg/kg/ngày, những chuột dùng liều 25 và 50 mcg/kg/ngày cho thấy có tăng tỷ lệ u tế bào gan nguyên phát. Điều này cũng được ghi nhận ở cả ba nhóm steroid (budesonide, prednisolone, triamcinolone acetonide) trong nghiên cứu được lặp lại ở chuột cống cái Sprague-Dawley, chứng tỏ đây là tác động chung của nhóm corticosteroid.
- Budesonide không gây đột biến, đã được đánh giá trong 6 thử nghiệm khác nhau.
- Trong những nghiên cứu gây kích thích trên súc vật và người cho thấy rằng budesonide có tác động kháng phản vệ và kháng viêm, biểu hiện bằng sự giảm tắc nghẽn phế quản trong phản ứng dị ứng tức thời cũng như trong phản ứng dị ứng muộn. 
Budesonide cũng làm giảm phản ứng của đường hô hấp đối với histamine và methacholine ở những bệnh nhân tăng nhạy cảm. Điều trị bằng budesonide dạng hít, một hay hai lần mỗi ngày, đã được sử dụng hiệu quả trong việc ngăn ngừa cơn hen do gắng sức. Sau khi dùng liều duy nhất, chức năng phổi được cải thiện trong vòng vài giờ.

Dược động học THUỐC PULMICORT
- Pulmicort Respules 90% Pulmicort bị bất hoạt khi chuyển hóa lần đầu qua gan tạo ra các chất chuyển hóa có hoạt tính glucocorticosteroid toàn thân thấp hơn 100 lần.
Khoảng 10% liều sử dụng của Pulmicort khí dung định vị ở phổi. Thể tích phân phối của budesonide ở người trưởng thành khoảng 300 l và ở trẻ em là 3,1 đến 4,8 l/kg. Điều này cho thấy budesonide có ái lực cao tại mô. Mức độ gắn kết với protein huyết tương là 88,8 ± 1,5% ở người.
- Ở người trưởng thành, thời gian bán hủy của budesonide sau khi dùng dạng khí dung là 2,0 ± 0,2 giờ và ở trẻ em là 1,5 giờ với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được ngay sau khi sử dụng. Chuyển hóa sinh học không đáng kể được quan sát ở phổi người và các chế phẩm huyết thanh.
- Ở những người tình nguyện hít budesonide, 31,8 ± 7,5% liều sử dụng xuất hiện trong nước tiểu và 15,1 ± 4,3% ở trong phân (0-96 giờ). Khả năng thanh thải budesonide dạng không đổi trong huyết tương là 84 l/giờ ở người trưởng thành và 1,5-2 l/giờ ở trẻ em.
- Sau một liều đơn, chức năng phổi được cải thiện trong vòng vài giờ. Một liều đơn Pulmicort Inhaler chứa 100-1600 mcg budenoside có thời gian tác dụng trong 10-12 giờ. Tuy nhiên, hiệu quả hoàn toàn của budesonide, cũng giống như các glucocorticosteroid khác, chỉ đạt được sau vài ngày điều trị. Khoảng 10% liều dùng đọng lại ở phổi, 90% phần thuốc được nuốt vào sẽ bị bất hoạt trong giai đoạn đầu qua gan.
Nồng độ huyết tương tối đa sau khi hít 1 mg budenoside thấp hơn 0,01 micromole/L và đạt được trong vòng 30 phút.
- Sau một liều đơn, chức năng phổi được cải thiện trong vòng vài giờ. Một liều đơn Pulmicort Turbuhaler chứa 100-1600 mcg budenoside có thời gian tác dụng trong 10-20 giờ. Tuy nhiên, hiệu quả hoàn toàn của budesonide, cũng giống như các glucocorticosteroid khác, chỉ đạt được sau vài ngày điều trị. Khoảng 25-30% liều dùng đọng lại ở phổi, 90% phần thuốc được nuốt vào sẽ bị bất hoạt trong giai đoạn đầu qua gan.
Nồng độ huyết tương tối đa sau khi hít 1 mg budenoside là khoảng 3,5 mmol/L và đạt được trong vòng 20 phút.

THUỐC PULMICORT có Chỉ định
- Điều trị hen phế quản.
- Pulmicort có thể được sử dụng khi liệu pháp thay thế hoặc giảm liều steroid đường uống là cần thiết. 
- Pulmicort Respules : cung cấp budesonide trong hỗn dịch khí dung khi các phương pháp khác của liệu pháp steroid không thích hợp.

THUỐC PULMICORT có Chống chỉ định
Mẫn cảm bất cứ thành phần nào của thuốc.

Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng THUỐC PULMICORT
Chú ý đề phòng THUỐC PULMICORT:
- Trong thời gian chuyển từ steroid đường uống sang Pulmicort Inhaler hay Turbuhaler, bệnh nhân có thể mắc lại các triệu chứng trước đây như viêm mũi, chàm, đau cơ và khớp. Trong những trường hợp này, đôi khi cần thiết phải tạm thời tăng liều steroid dạng uống. Trong trường hợp hiếm, nếu xảy ra các triệu chứng mệt mỏi, nhức đầu, buồn nôn và ói, cần nghi ngờ là do tác dụng của steroid toàn thân không đủ.
Các đợt bộc phát hen cần được điều trị bổ sung với 1 liệu trình ngắn bằng steroid đường uống.
- Để giảm nấm ở miệng họng và giảm tác động toàn thân, bệnh nhân nên súc miệng sau mỗi lần dùng thuốc.

Thận trọng lúc dùng THUỐC PULMICORT:
- Pulmicort không chỉ định trong giảm cơn co thắt phế quản tức thời, vì vậy Pulmicort không thích hợp như đơn liệu pháp trong điều trị cơn hen cấp.
Cần đặc biệt theo dõi những bệnh nhân chuyển từ corticosteroid dạng uống sang - Pulmicort trong vài tháng để phục hồi hoàn toàn trục tuyến dưới đồi-tuyến yên-tuyến -thượng thận.
Trong những đợt tấn công của cơn hen, những bệnh nhân này cần điều trị bổ sung corticosteroid dạng uống và được hướng dẫn để thực hiện sổ theo dõi thích hợp.
Bệnh nhân trước đây có sử dụng steroid toàn thân liều cao có thể xuất hiện lại các triệu chứng dị ứng như viêm mũi, chàm khi chuyển từ liệu pháp steroid đường uống sang Pulmicort do tác động toàn thân của budesonide thấp.
Liều cao glucocorticosteroid có thể che dấu một số biểu hiện của nhiễm trùng sẵn có và một số nhiễm trùng mới có thể xuất hiện trong thời gian sử dụng. Cần theo dõi đặc biệt ở những bệnh nhân lao phổi thể hoạt động hay tiềm ẩn hoặc bệnh nhân nhiễm trùng hệ hô hấp nguồn gốc nấm, vi khuẩn hay virus.
Khi có sự suy giảm tuyến thượng thận ở bệnh nhân điều trị dài hạn với liều cao, cần kiểm tra chức năng tuyến thượng thận và huyết học.
Các thuốc dùng qua đường hô hấp không nên sử dụng với hệ thống phân phối dưới áp lực dương ở các bệnh phổi như tràn khí màng phổi, kén khí, tràn khí trung thất trừ khi có hệ thống dẫn lưu đặc biệt.

Sử dụng thuốc ở trẻ em:
Trẻ em chỉ nên sử dụng Pulmicort theo sự kê đơn của bác sĩ và luôn được người lớn giám sát.
Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy :
Pulmicort không ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy. 

Lúc có thai và lúc nuôi con bú
Tránh dùng trong suốt thai kỳ trừ khi cần thiết.
Ở động vật có thai, sử dụng budenoside có thể liên quan đến sự phát triển bào thai bất thường. Ý nghĩa của dấu hiệu này đối với người còn chưa được xác định.
Nếu việc điều trị glucocorticosteroid trong thai kỳ không thể tránh được, thì glucocorticosteroid dạng hít là thích hợp nhất do tác động toàn thân thấp so với liều chống hen tương đương của glucocorticosteroid dạng uống.
Chưa có thông tin về sự bài tiết của budesonide qua sữa mẹ. 

Tương tác THUỐC PULMICORT
Dược động học của budesonide đã được khảo sát ở người khoẻ mạnh không dùng hay có dùng cimetidine, 1000 mg/ngày. Sau khi uống 4 mg, trị số Cmax (nmol/L) và độ khả dụng sinh học hệ thống (%) của budesonide không dùng hay có dùng cimetidine (lần lượt là 3,3 so với 5,1 nmol/L và 10 so với 12%), các trị số này cho thấy có tác động ức chế nhẹ trên chuyển hóa của budesonide ở gan gây ra do cimetidine. Điều này ít quan trọng về mặt lâm sàng.

Tác dụng ngoại ý THUỐC PULMICORT
Kích thích nhẹ ở họng, ho và khan tiếng. Nhiễm Candida ở miệng hầu đã được ghi nhận.
Trong những trường hợp hiếm, phản ứng da (nổi mề đay, mẩn đỏ, viêm da...) có thể xảy ra liên quan đến việc điều trị bằng corticosteroid tại chỗ.
Các triệu chứng thần kinh như nôn nóng, bồn chồn và trầm cảm cũng như các rối loạn hành vi ở trẻ em đã được nhận thấy.

Liều lượng và cách dùng THUỐC PULMICORT
Liều lượng:
Liều lượng của Pulmicort là tùy theo từng cá nhân.
Pulmicort Respules- Hỗn dịch khí dung
Nếu cơn hen trở nên nặng hơn thì số lần sử dụng mỗi ngày và/hoặc tổng liều budesonide có thể cần phải tăng lên.
Pulmicort Respules nên được sử dụng với máy khí dung thích hợp. Lượng thuốc được phóng thích vào phổi thay đổi từ 40-60% liều sử dụng tùy thuộc vào thiết bị khí dung. Thời gian khí dung và lượng thuốc được phóng thích phụ thuộc vào tốc độ dòng khí, thể tích buồng chứa và thể tích thuốc nạp vào. Thể tích thuốc nạp vào thích hợp cho hầu hết máy khí dung là 2-4 ml.
Sự lắng đọng có thể xảy ra khi bảo quản Pulmicort Respules. Nếu sau khi lắc mà thuốc không trở lại dạng hỗn dịch thì nên loại bỏ ống thuốc.
Liều khởi đầu, hoặc trong giai đoạn hen nặng hoặc trong thời gian giảm liều corticosteroid đường uống :
Người lớn : 1-2 mg x 2 lần/ngày.
Trẻ em : 0,5-1 mg x 2 lần/ngày.

Điều trị duy trì :
Tùy thuộc cá nhân và nên dùng liều thấp nhất làm mất triệu chứng. Liều chỉ định là :
Người lớn : 0,5-1 mg x2 lần/ngày.
Trẻ em : 0,25-0,5 mg x2 lần/ngày.

Khi bắt đầu điều trị với glucocorticosteroid dạng hít, trong suốt giai đoạn hen nặng và trong khi giảm hoặc ngưng sử dụng glucocorticosteroid dạng uống thì liều lượng nên là : 
Người lớn : 400-1600 mcg/ngày, chia 2-4 lần (trường hợp ít nguy cấp 400-800 mcg/ngày, trường hợp nặng 800-1600 mcg/ngày).
Trẻ em từ 2-7 tuổi : 200-400 mcg/ngày, chia 2-4 lần.
Trẻ em từ 7 tuổi trở lên : 200-800 mcg/ngày, chia 2-4 lần.
Liều duy trì nên tùy theo từng cá nhân và giảm đến mức thấp nhất cho phép. Dùng 2 lần/ngày (sáng và tối) là đủ. Ở những bệnh nhân cần đạt hiệu quả điều trị tốt hơn, thì có thể chỉ định liều Pulmicort cao hơn vì tác dụng phụ toàn thân của thuốc thấp hơn so với khi dùng liệu pháp kết hợp với glucocorticosteroid đường uống.
Bệnh nhân không lệ thuộc steroid đường uống : 
Hiệu quả điều trị thường đạt được trong vòng 10 ngày. Ở những bệnh nhân có xuất tiết đờm quá mức ở phế quản, một liệu trình corticosteroid đường uống hỗ trợ ngắn hạn (khoảng 2 tuần) có thể được cho lúc ban đầu. 
Bệnh nhân lệ thuộc steroid đường uống :
Khi bắt đầu chuyển từ steroid đường uống sang Pulmicort, bệnh nhân nên ở trong tình trạng tương đối ổn định. Liều cao Pulmicort được cho kết hợp với steroid uống đã sử dụng trước đó trong vòng 10 ngày. 
Sau đó giảm liều uống từ từ (ví dụ 2,5 mg prednisolone hoặc thuốc tương đương cho mỗi tháng) cho đến liều thấp nhất có hiệu quả. Trong nhiều trường hợp có thể thay thế hoàn toàn steroid đường uống bằng Pulmicort.

Cách sử dụng THUỐC PULMICORT:
1. Tháo nắp bảo vệ. Lắc kỹ để trộn đều thuốc trong bình bơm xịt.
2. Ngậm kín môi quanh đầu ngậm.
3. Thở ra nhẹ qua đầu ngậm.
4. Hít vào và xịt liều thuốc. 
Trong lúc hít vào, nhấn bơm xịt để phóng thích một liều thuốc. Hít vào bằng miệng thật chậm và sâu.
5. Nín thở càng lâu càng tốt, tốt nhất trong 10 giây, và sau đó thở ra. 
Nếu cần dùng thêm liều, lắc bơm xịt lần nữa và lập lại các bước từ 2-5. 
Súc miệng sau mỗi lần dùng.

Chú ý quan trọng THUỐC PULMICORT:
Pulmicort tác động tại phổi. Do vậy điều quan trọng là phải xịt liều thuốc cùng lúc hít vào, để cho phép lượng thuốc có thể xâm nhập sâu vào phổi càng nhiều càng tốt.
Có thể kiểm tra qua gương để xem chất phun mù, trông giống như sương mù, có thoát qua miệng và bơm xịt hay không. 
Tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ và không sử dụng Pulmicort quá liều chỉ định. Đôi khi phải mất 2 tuần mới đạt hiệu quả điều trị đầy đủ. Hỏi ý kiến của bác sĩ nếu thấy hiệu quả của thuốc giảm nhiều.

Đề phòng THUỐC PULMICORT:
Bơm xịt phun mù được nén với áp lực. Không để van bị hư hỏng và bình thuốc không được để tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc nhiệt độ > 40°C.

Lau rửa THUỐC PULMICORT:
Tháo bơm xịt ra và rửa phần nhựa thường xuyên (ít nhất 1 lần mỗi tuần) trong nước ấm không quá nóng, với chất tẩy nhẹ nếu cần. Để phần nhựa khô hoàn toàn và lắp bơm xịt vào.
Có thể kiểm tra xem còn bao nhiêu thuốc trong bơm xịt bằng cách thả nó vào trong tô nước.
Luôn luôn trữ sẵn 1 ống Pulmicort bơm xịt định liều mới.

Liều lượng của Pulmicort Turbuhaler là tùy theo từng cá nhân. Khi bắt đầu điều trị với glucocorticosteroid dạng hít, trong suốt giai đoạn hen nặng và trong khi giảm hoặc ngưng sử dụng glucocorticosteroid dạng uống thì liều lượng nên là :
Trẻ em từ 5-7 tuổi : 200-400 mcg/ngày, chia 2-4 lần.
Trẻ em từ 7 tuổi trở lên : 200-800 mcg/ngày, chia 2-4 lần.
Người lớn : 200-1600 mcg/ngày, chia 2-4 lần (trường hợp ít nguy cấp : 200-800 mcg/ngày, trường hợp nặng : 800-1600 mcg/ngày).
Dùng 2 lần/ ngày (sáng và tối) thường là đủ có hiệu quả.
Liều duy trì nên tùy theo từng cá nhân và giảm đến mức thấp nhất cho phép. Khi liều duy trì bằng hay thấp hơn 400 mcg thì có thể dùng một lần/ngày, vào buổi sáng hay buổi tối. Nếu tình trạng suyễn trở nên xấu hơn, nên tăng số lần dùng và liều dùng.
Những bệnh nhân cần đạt hiệu quả điều trị tốt hơn, thì có thể chỉ định liều Pulmicort cao hơn vì thuốc có tác dụng phụ toàn thân thấp hơn so với khi dùng liệu pháp kết hợp với glucocorticosteroid đường uống.
Bệnh nhân nên súc miệng với nước sau mỗi lần sử dụng.

Bệnh nhân không lệ thuộc steroid đường uống :
Hiệu quả điều trị thường đạt được trong vòng 10 ngày. Ở những bệnh nhân có xuất tiết chất nhầy quá mức ở phế quản, một liệu trình hỗ trợ ngắn hạn (khoảng 2 tuần) dùng corticosteroid đường uống có thể được cho lúc ban đầu.

Bệnh nhân lệ thuộc steroid đường uống:
Khi bắt đầu chuyển từ steroid đường uống sang Pulmicort Turbuhaler, bệnh nhân nên ở trong tình trạng tương đối ổn định. Liều cao Pulmicort Turbuhaler được cho trong vòng 10 ngày kết hợp với steroid uống đã sử dụng trước đó. Sau đó giảm liều uống từ từ (ví dụ 2,5 mg prednisolone hoặc liều tương đương mỗi tháng) cho đến liều thấp nhất có hiệu quả. Trong nhiều trường hợp có thể thay thế hoàn toàn steroid đường uống bằng Pulmicort Turbuhaler.

Cách sử dụng THUỐC PULMICORT
Turbuhaler là một ống hít thuốc bột đa liều mà không cần phải sử dụng thêm chất đẩy nào khác. Khi bệnh nhân hít vào, thuốc từ ống Turbuhaler sẽ được phóng thích vào phổi, đó là nơi thuốc có tác động.
Lượng thuốc trong mỗi liều rất nhỏ. Ngay cả khi nếu không cảm giác có vị thuốc sau khi hít, bệnh nhân cũng có thể tin tưởng rằng đã nhận được liều thuốc.
Nên nhớ xoay đế ống hít trước khi dùng và kiểm tra thường xuyên cửa sổ chỉ thị liều phía dưới đầu ngậm để đảm bảo ống hít vẫn còn thuốc.
Turbuhaler rất dễ sử dụng. Thao tác theo các hướng dẫn dưới đây :
1. Vặn và tháo nắp bảo vệ. Giữ ống hít thẳng đứng với phần đế ống hít màu nâu nằm ở dưới.
2. Nạp vào ống hít một liều thuốc bằng cách xoay đế ống hít hết mức và sau đó vặn ngược về vị trí ban đầu.
3. Thở ra. Không được thở ra vào ống thuốc.
4. Đặt đầu ngậm của ống hít giữa hai hàm răng và ngậm kín môi. Hít vào bằng miệng thật mạnh và sâu. Không được nhai hoặc cắn mạnh đầu ngậm.
5. Nín thở, lấy ống thuốc ra khỏi miệng. Tiếp tục nín thở càng lâu càng tốt trước khi thở ra. (Nếu cần dùng thêm liều, cầm ống hít thẳng đứng và lặp lại từ bước 2 đến bước 5).
6. Đậy nắp lại.
7. Súc miệng với nước sau khi dùng ống hít.

Quan trọng THUỐC PULMICORT:
Không được thở ra vào đầu ngậm của ống hít. Luôn luôn đậy nắp đúng cách sau khi dùng.

Lau sạch:
Lau sạch phần ngoài của đầu ngậm (mỗi tuần) với khăn khô. Không được dùng nước để rửa đầu ngậm.
Làm thế nào để biết ống hít đã sử dụng hết?
Khi dấu đỏ được nhìn thấy ở cửa sổ chỉ thị liều thì chỉ còn khoảng 20 liều thuốc. Khi dấu đỏ đã đi đến bờ dưới của cửa sổ chỉ thị liều thì ống hít đã hết thuốc. Âm thanh nghe được khi lắc ống hít không phải là do thuốc mà là do chất hút ẩm.

Quá liều
Dùng quá liều Pulmicort, thậm chí với liều quá mức, không gây ảnh hưởng trầm trọng trên lâm sàng.

Bảo quản
dưới 30°C

Hãng xản xuất:
AstraZeneca

Nhóm thuốc: CPL


Quốc gia: Đang cập nhập...


Lưu ý: Quý khách tham khảo, việc sử dụng thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ

Xem thảo luận và đánh giá

Viết thảo luận

Bạn cho:

Sản phẩm liên quan